Làm thế nào để thay đổi trường học

“The journey back to an ambitious future”, Review of the “How Schools Change”, by Tony Wagner

“Hành trình trở về một tương lai khát vọng”, Giới thiệu sách “Làm thế nào để thay đổi trường học”, Tony Wagner

 

Làm cách nào để chúng ta có thể nuôi dạy những đứa trẻ sáng tạo? Đó hẳn là câu hỏi dành được sự quan tâm từ tất cả phụ huynh, giáo viên, các nhà quản lý giáo dục và cả các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng nhanh và phức tạp hơn bởi các tác động của công nghệ, mối quan tâm ấy càng trở nên đa mục đích và đa dạng thức. Những quan tâm của cha mẹ có thể tạo ra những kì vọng quá mãnh liệt và vô tình can thiệp vào phương thức hoạt động của nhà trường. Các nhà trường cũng ở trong thế lưỡng nan, khi vừa phải gồng mình với các vấn đề tồn tại dai dẳng trong nhiều năm, vừa phải chuyển mình để đáp ứng với nhu cầu mới. Ở bất kể quốc gia nào, hệ thống các trường học có lẽ là hệ thống tổ chức công lớn nhất, theo nhiều nghĩa. Các trường học phục vụ  học sinh – nhóm đối tượng đông đảo nhất, có đội ngũ công chức lớn nhất, đi kèm với những khoản chi ngân sách không hề nhỏ. Bởi vậy, việc cải tổ guồng hoạt động của trường học, bất kể là một hệ thống trường hay chỉ một cơ sở trường học, cũng đem lại những tác động vô cùng lớn lao về dài hạn.

Đối với những người Việt Nam quan tâm tới giáo dục, giáo sư Tony Wagner hẳn không phải là một cái tên xa lạ. Ông là tác giả của tựa sách “Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục” (Ấn bản lần đầu năm 2008, bản dịch tiếng Việt phát hành năm 2014) và “Khai sinh Nhà Đổi mới” (Ấn bản lần đầu năm 2012, bản dịch tiếng Việt phát hành năm 2014). Hai cuốn sách trên là một sự phản chiếu cho chính các giai đoạn nghiên cứu của Tony Wagner. Với “Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục”, ông đặt ra những bài toán vĩ mô, những thách thức của chung nhân loại để phát triển các hệ thống giáo dục nhân bản, công bằng và sáng tạo. Những bài toán ấy, có lẽ vẫn sẽ còn tồn tại song hành với những nền kinh tế đang phát triển, và sẽ chẳng ai học mót được lời giải từ một quốc gia khác cả. Với một góc nhìn khác, “Khai sinh Nhà Đổi mới” có lẽ giống như một đốm lửa linh hoạt, có khả năng nhóm lên động lực nội tại của bất kì ai có niềm quan tâm tới giáo dục. So với  thời điểm 2012, những thuật ngữ, quan điểm mà Tony Wagner đề cập tới có vẻ không còn mấy lạ lẫm với chúng ta: “cộng tác thay vì ganh đua; học tập liên ngành thay vì tập trung chuyên ngành; thử nghiệm và thất bại thay vì lảng tránh rủi ro; chủ động làm ra thay vì hưởng thụ; động lực nội tại thay vì động lực ngoại sinh”. Vậy, nếu tạm mượn những quan điểm trên để làm thước đo, thì đâu là những tiến bộ mà chúng ta đã đạt được, trong suốt gần mười năm qua?

 

Xin chớ lo lắng nếu bạn thấy rằng còn quá khó để nhận ra sự hiện diện của những quan điểm trên trong đời sống thực thụ, cũng như trong khuôn khổ các trường học. Điều lo lắng của bạn, cũng như của nhiều người khác hẳn là lí do để giải thích cho sự bùng nổ của các trào lưu học thêm, học ngoại khoá, các kì thi thành tích, năng khiếu trong những năm gần đây. Liệu những mê hồn trận thi thố, tranh đấu đó sẽ là lời giải cho những gì chúng ta mòn mỏi mong chờ ở hệ thống giáo dục quốc dân? Hay đơn thuần, đó là những sự lựa chọn của một bộ phận phụ huynh nhất định, những sự lựa chọn với mong muốn được khác đi, được tốt đẹp hơn, được an tâm hơn? Chính Tony Wagner đã chỉ ra trong “Cách biệt toàn cầu về thành quả giáo dục”, rằng ngay cả ở các nước phát triển như Mỹ và châu Âu, những khoảng cách ấy vẫn luôn tồn tại, bởi chúng là hình ảnh phản chiếu của nghịch lý giữa cơ chế và thực tiễn giáo dục.

 

Ở một diễn biến không thể tách rời khác, giáo dục vừa là tác nhân, lại vừa là hệ quả của chính sự phát triển của các nền kinh tế. Hai tựa sách kể trên được Tony Wagner chắp bút trong giai đoạn sau của sự nghiệp, khi ông có nhiều sự cộng tác và nghiên cứu với các doanh nghiệp. Những vấn đề, nhức nhối và giải pháp được ông đề cập tới trong hai tác phẩm này đều không hề có một ranh giới nào giữa nhà trường và cuộc sống thực tế. Đã từng có nhiều người hoài nghi rằng những gợi ý của Tony Wagner là quá chung chung và rất khó để áp dụng trong các trường học cụ thể. Đó cũng là điều dễ hiểu. Những định kiến như vậy nảy sinh ra từ tâm lý “ra khoai ra môn”, môn học nào thì phải ra môn học đó, “liên ngành/liên môn” chỉ là một điều sáo rỗng được tô vẽ thêm để tiêu tiền ngân sách mà thôi.

 

Nếu chúng ta để ý một chút, thì giữa hàng loạt các quan điểm được Tony Wagner đưa ra, đều có một sợi dây xuyên suốt: tính sáng tạo và tư duy phản biện. Nói một cách đơn giản hơn, theo Tony Wagner, đó là khả năng biết đưa ra những câu hỏi tốt. Có được câu hỏi tốt, thì sẽ có bài toán tốt và lời giải tốt. Và, cách thức đơn giản nhất để có những câu hỏi tốt, đó là sự quan sát chú tâm, bền bỉ. “Làm thế nào để thay đổi trường học” chính là đúc kết của nhiều năm quan sát bền bỉ mà Tony Wagner đã dành cho ba trường phổ thông. Qua cuốn sách, ông đúc rút ba việc làm quan trọng mà bất kì trường học nào cũng cần phải lưu tâm: (i) mục tiêu học thuật rõ ràng; (ii) là một cộng đồng với những giá trị cốt lõi được thể hiện rõ ràng, và (iii) thúc đẩy sự hợp tác giữa những thành phần chủ chốt của nhà trường. Ba điểm này nghe chừng rất hiển nhiên và đơn giản, nhưng có lẽ, chúng ta đều biết rằng để đạt được một điều thôi cũng đã rất khó rồi.

 

Phong cách học tập case study (học tập thông qua nghiên cứu các trường hợp điển hình) được bắt nguồn từ trường Kinh doanh Harvard, nhưng đã dần trở nên phổ biến và được ưa chuộng trong nhiều ngành nghề. “Làm thế nào để thay đổi trường học” cũng có thể coi là một tài nguyên tham khảo theo lối tiếp cận case study dành cho những nhà giáo dục. Trong đó, Tony Wagner đã thuật lại những chiêm nhiệm của mình đối với ba ngôi trường – ba cộng đồng học tập. Ngôi trường thứ nhất, trường THCS và THPT Hull – một trường công lập nhỏ bé với 400 học sinh, ở một thị trấn mà phần đông là người lao động chân tay nhưng phải đối mặt với câu chuyện cắt giảm ngân sách. Ngôi trường thứ hai, hệ thống trường Cambridge Rindge và Latin, với 2,100 học sinh mà đa phần là đến từ các sắc tộc thiểu số, một ngôi trường điển hình cho sự tương phản giàu-nghèo của Cambridge, Maasachusetts. Và cuối cùng, trường Brimmer và May, một ngôi trường tư thục với khuôn viên khiêm tốn nhưng được chăm chút tỉ mỉ, như một nỗ lực đầy tham vọng và thú vị trong cuộc tranh luận lúc bấy giờ về giáo dục công-tư. Mặc dù đây là các trường học ở Mĩ, nhưng ít nhiều, tôi tin là chúng ta đều sẽ thấy những nét quen thuộc trong câu chuyện cải tổ của từng trường.

 

Thông điệp xuyên suốt trong các nghiên cứu của Tony Wagner rất đơn giản và rõ ràng: Sự đổi mới. Sự đổi mới không chỉ là chìa khoá cho sức khoẻ và sự phục hồi của các nền kinh tế, mà còn là trọng tâm cho việc chấp nhận các rủi ro và khai phá các cơ hội. Trong những quan sát của ông tại các lớp học vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, sự đổi mới được biểu hiện ở việc tôn vinh sự đa dạng, cá nhân hoá việc học, tạo cơ hội để đem thế giới vào lớp học. Những đổi mới ấy đã thách thức một vấn đề cơ bản: giáo dục sẽ truyền thụ kiến thức, hay sẽ thúc đẩy việc học?

 

Trong quá trình nghiên cứu ba trường học kể trên, Tony Wagner đồng thời giữ vai trò chuyên gia tư vấn, đào tạo và nhà nghiên cứu. Trong quá trình quan sát và đúc rút ra các bài học, thật khó lòng để có thể bóc tách những vai trò trên một cách rạch ròi để giữ được tính khách quan của một nhà nghiên cứu. Tony Wagner đã hoà mình vào chính những cộng đồng trường học này, tiến hành cuộc điền dã bền bỉ và sáng tạo với trọng tâm là sự lắng nghe một cách kiên nhẫn. Theo một cách nào đó, ông đã tham dự vào “cuộc chiến vì các trường học” với cả vai trò người tham chiến và sử gia. Tony gọi cuộc chiến này là “cuộc chiến của các quan điểm, tư tưởng, lý luận, chính sách, các chương trình hành động cụ thể của chính quyền, nhà trường, hiệp hội, các nhóm xã hội khác nhau nhằm cải thiện hiệu quả giáo dục”. Bởi bản thân “cuộc chiến” đã rất phức tạp, nên nếu người tham dự không xác định được rõ ràng vai trò và kì vọng của bản thân, chúng ta rất có nguy cơ lạc lối và trở thành nạn nhân của mớ bòng bong này.

 

Nếu bạn là một giáo viên, bạn có thể tìm kiếm nhiều sự đồng cảm trong những cuộc cải tổ cách đây ba chục năm ở bên kia địa cầu. Từ hàng thế kỷ nay, chúng ta đã biết rằng giáo viên luôn có tác động rất lớn đến thành tích học tập của học sinh. Thế nhưng thật khó để nói rằng bạn  sẽ trở thành một giáo viên tốt từ lúc bạn còn ngồi trên ghế trường sư phạm. Chúng ta phải chờ đợi, phải kiên nhẫn chờ đợi sau nhiều năm bạn giảng dạy và lăn lộn với thực tế. Bạn đã từng nghe nhiều người nói về việc “lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người hướng dẫn?”. Bạn thấy nó mơ hồ, sáo rỗng và đã vật lộn với cả những đam mê và sự hoài nghi? Tôi tin chắc bạn sẽ thấy hình bóng bản thân mình ẩn hiện đâu đó tại trường phổ thông Brimmer và May. Với cá nhân mình, tôi nhận ra một điều: không gian làm việc của chúng ta cũng chính là không gian học tập của học sinh. Học sinh không chỉ học kiến thức từ thầy cô, học từ các bạn học, mà còn học từ cách các thầy cô cộng tác và cùng nhau phát triển.

 

Nếu bạn là một nhà lãnh đạo trường học, tôi tin chắc rằng cũng giống như lãnh đạo của ba trường học được đề cập trong cuốn sách này, mỗi ngày, bạn đều phải đối mặt với những thử thách ngắn hạn và dài hạn. Đối với trường Brimmer và May, mục tiêu giáo dục là giúp học sinh học cách tư duy; trường trung học Hull, họ tập trung vào việc “học” thay vì việc “dạy”; còn trường Cambridge Rindge và Latin “coi học sinh là thợ, và giáo viên là huấn luyện viên”. Cho dù bất kể chuyện gì xảy ra, bạn phải đảm bảo rằng mình sẽ đưa ra những quyết định tốt nhất, dựa trên lợi ích của học sinh, gắn với những mục tiêu học thuật rõ ràng. Giáo viên là những người gần gũi nhất với học sinh. Nếu một trong những mục tiêu chính mà trường học của bạn hướng tới là nâng cao các năng lực chủ động của học sinh, thì giáo viên – chứ không phải lãnh đạo nhà trường – cần được tạo cơ hội để tiên phong và đóng vai trò trung tâm trong việc xác định các vấn đề tiềm ẩn, đề xuất giải pháp và đưa ra khuyến nghị. Để “chuẩn bị cho mỗi học sinh phát triển thành một cá nhân toàn diện, một con người nhân văn, một công dân có trách nhiệm, và một thành viên hữu ích của xã hội”, bạn cần phải lưu tâm về tất cả những gì cần thiết để có thể làm nên một đội ngũ giáo viên và nhân viên năng động, lành nghề và luôn tràn trề động lực. Trong cuốn sách này, bạn hãy kiếm tìm những chiêm nghiệm về vai trò của nhà giáo. Trên cương vị nhà lãnh đạo giáo dục, hãy cho mình cơ hội để lãnh đạo một cách hài hoà, bình dị và lôi cuốn, để bản thân giáo viên trở thành những động lực cho sự thay đổi, thay vì là đối tượng của các thay đổi.

 

Nếu bạn là một phụ huynh có con trong độ tuổi đi học, hẳn bạn có thể quan sát thấy sự gia tăng khoảng cách, những hiểu lầm và thờ ơ giữa con cái và cha mẹ, trong chính gia đình mình, hoặc gia đình một người quen biết. Bất kể nguyên do nằm ở phía ai, thì những hiểu lầm như vậy cũng sẽ khiến trẻ em, vị thành niên có những tổn thương về mặt tinh thần, những điều có thể đem lại sự gia tăng nguy cơ sử dụng các chất gây nghiện, tham gia vào các hành vi bạo lực, hay tự phương hại bản thân. Có thể, bạn đang lo ngại rằng trí năng và các thói quen lành mạnh của con trẻ sẽ bị suy thoái bởi trẻ dành quá nhiều thời gian cho các hoạt động giải trí (mà bạn cho là vô bổ hoặc không có ích như việc học) như nghe nhạc, chơi điện tử, đọc truyện tranh, lướt Internet… Nhưng đồng thời, bạn cũng có thể không hay biết về những khó khăn học tập mà con cái mình phải đối mặt, hay các khó khăn mà các thầy cô đang phải vật lộn hàng ngày. Có thể bạn không nhận ra những mâu thuẫn trên, mà chỉ đang băn khoăn không biết đâu là trường học, hay chương trình học tốt nhất dành cho con cái mình? Tôi xin dành tới bạn một thử thách đơn giản: Hãy đọc cuốn sách này và nghĩ về những nỗ lực mà các thầy cô giáo, nhà trường nơi con bạn theo học đã và đang cố gắng hàng ngày. Tiếp đến, hãy nghĩ xem liệu có cách nào để bản thân bạn cũng trở thành một phần của những nỗ lực đó?

 

Cuối cùng, là một người quan tâm đến giáo dục, tôi tin chắc bạn sẽ tìm thấy sự đồng cảm ở những điều gần như là hiển nhiên mà tác giả đề cập tới trong cuốn sách. Tại sao trường học cứ mãi trì trệ mà không cải tổ? Tại sao lại không để các trường công lập cạnh tranh, để phụ huynh có quyền lựa chọn sản phẩm giống như mọi ngành khác của nền kinh tế? Những sai lầm cứ lặp đi lặp lại này thuộc về ai? Những nhà giáo được đào tạo từ những năm 1980 liệu có đảm bảo nuôi dưỡng được những công dân thês kỷ 21? Tại sao, tại sao và tại sao? Tôi không tin rằng cuốn sách này có thể giúp bạn trả lời tất cả, hoặc phần lớn những câu hỏi ấy. Nhưng một điều chắc chắn bạn sẽ nhận thấy, đó là tinh thần cộng tác không vụ lợi giữa tất cả các bên: học sinh, giáo viên, phụ huynh, ban giám hiệu, các nhà hoạch định chính sách. Bất kể mục tiêu, khát khao nào cũng đều có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta biết cách cộng tác và nắm bắt các cơ hội. Thay vì than vãn những khiếm khuyết, hãy nắm lấy cơ hội để tạo ra tương lai, kể cả những tương lai mà chúng ta đã vuột mất. Cuối cùng, xin hãy lưu ý một điều, phần lớn những quan sát, nghiên cứu trong cuốn sách này đã được tiến hành trong hai năm 1990, 1991. Bạn hãy coi cuốn sách này như một chiếc vé trên con tàu trở-về-tương-lai.

 

Chúc bạn có những chiêm nghiệm thú vị của riêng mình!

 

Hoàng Anh Đức

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục EdLab Asia

 

Bài viết liên quan

error: Content is protected !!

Giáo dục là chìa khóa để thành công trong cuộc sống, và giáo viên là người tạo ra tác động lâu dài trong cuộc sống của học sinh.

Đăng ký nhận tư vấn